Người Sán Dìu
Có nguồnCập nhật 25/10/2026

Nguồn: Báo Nhân Dân
- Tên gọi:
- Người Sán Dìu
- Tên gọi khác:
- Sơn Dao
- Nhóm ngôn ngữ:
- Hán - Tạng
- Dân số:
- 183.004 người (năm 2019)Nguồn: Tổng cục Thống kê – Đặc trưng cơ bản của 53 dân tộc thiểu số năm 2019
- Địa bàn cư trú:
- Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải DươngTheo tài liệu nguồn; tên tỉnh có thể là tên trước sắp xếp đơn vị hành chính 2025.
Giới thiệu chung
Người Sán Dìu, tự nhận là Sơn Dao, được nhà nghiên cứu Ma Khánh Bằng cho là có gốc từ người Dao, phải phiêu bạt vì bị phong kiến Trung Quốc áp bức. Họ cư trú trên vùng đồi gò trung du Bắc Bộ phía tả ngạn sông Hồng, đông nhất ở Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh. Người Sán Dìu đã chuyển sang dùng một thổ ngữ Hán Quảng Đông, có lối hát soọng cô về đêm và lễ Đại Phan (Tuyên Quang) được công nhận là di sản phi vật thể quốc gia.
Trang phục
Phụ nữ mặc áo dài, yếm đỏ, váy chàm, khăn đen và đeo trang sức bạc như vòng cổ, vòng tay, xà tích; nam giới ăn mặc giống người Việt.
Phong tục và tập quán
Bàn thờ thường có ba bát hương thờ tổ tiên, pháp sư và táo quân. Trước ngày cô dâu về nhà chồng có lễ khai hoa tửu ở nhà gái; Tết Đông chí mang ý nghĩa cầu con cháu.
Nghệ thuật
Hát giao duyên soọng cô vào ban đêm; xưa dùng chữ Nôm Sán Dìu viết gia phả, văn cúng, truyện và thơ ca.
Sinh kế
Trồng lúa, khoai, ngô, sắn trên nhiều loại ruộng; chăn nuôi gia cầm, lợn, nuôi ong, khai thác lâm sản và làm các nghề đan lát, dệt, gốm, mộc, rèn.
